Tìm kiếm
 
 

Display results as :
 
Rechercher Advanced Search
Keywords
nguyen ngay tien truyen banh nguoi buoc nhat trai thpt nghi niem truong chung minh thuyet viet ptth chuyen trong
March 2017
MonTueWedThuFriSatSun
  12345
6789101112
13141516171819
20212223242526
2728293031  
CalendarCalendar
Affiliates
free forum




Share | 
  Đề : TMinh về Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong tác phẩm cùng tên của Ngô Sĩ LiênXem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Go down 
Bài gửiTiêu đề: Đề : TMinh về Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong tác phẩm cùng tên của Ngô Sĩ LiênWed Jan 04, 2012 4:25 pm
avatar

Xem lý lịch thành viên http://boytanlap1996.forumvi.com
Thông tin thành viên :
Click !Tổng số bài gửi Tổng số bài gửi : 39
sinh nhật sinh nhật : 14/01/1996
Ngày gia nhập : 28/12/2011
Tuổi : 21

Chủ đề : Đề : TMinh về Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong tác phẩm cùng tên của Ngô Sĩ Liên
--------------------------------------------------


Trần Hưng Đạo (陳興道) là danh tướng thời nhà Trần và cũng là danh tướngtrong lịch sử Việt Nam, có công lớn trong hai lần kháng chiến chốngNguyên Mông. Ông cũng là tác giả của bộ "Binh thư yếu lược" (hay "Binhgia diệu lý yếu lược") và "Vạn Kiếp tông bí truyền thư" (đã thất lạc).Ông còn được người dân Việt tôn sùng như bậc thánh, nên còn được gọi làĐức thánh Trần.

Thân thế:
Ông tên thật là Trần Quốc Tuấn(陳國峻), là con trai của An Sinh Vương Trần Liễu, cháu gọi vua Trần TháiTông bằng chú, quê ở làng Tức Mặc, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định). Nămsinh của ông không rõ ràng, có tài liệu cho là năm 1228, có tài liệuthì cho là năm 1230 hay 1232.

Ông có vốn tài quân sự, lại làtông thất nhà Trần, do đó trong cả 3 lần quân Nguyên - Mông tấn côngĐại Việt, ông đều được vua Trần cử làm tướng chống trận. Đặc biệt ởkháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 2 và thứ 3, ông được vua TrầnNhân Tông phong làm Tiết chế các đạo quân thủy bộ. Dưới tài lãnh đạocủa ông, quân dân Đại Việt chiến thắng ở Chương Dương, Hàm Tử, VạnKiếp, Bạch Đằng, đuổi giặc ra khỏi nước, được phong tước Hưng Đạo Vương.

Saukhi kháng chiến chống Nguyên - Mông lần thứ 3 thành công, ông về trí sĩở trang viên của mình tại Vạn Kiếp. Tuy nhiên, các vua Trần vẫn thườngxuyên đến vấn kế sách.

Ông mất ngày 20 tháng 8 năm Canh Tý (tứcngày 5 tháng 9 năm 1300), thọ trên dưới 70 tuổi. Nhân dân đương thờilập đền thờ ông gọi là Đền Kiếp Bạc.

Các điển tích
Qua nhữngcâu chuyện dưới đây, có thể thấy ở ông một sự hy sinh quyền lợi cá nhânrất cao để phục vụ cho mục tiêu của cả dân tộc cho dù ông là người cótài thao lược và nắm nhiều quyền bính trong tay.

Thiếu thời
Đại Việt sử ký toàn thư có chép:

Lúc mới sinh ra, có một thầy tướng xem cho và bảo: "Người này ngày sau có thể giúp nước cứu đời".
Khilớn lên, ông có dung mạo khôi ngô, thông minh hơn người, đọc thông hiểurộng, có tài văn võ. An Sinh Vương Trần Liễu trước đây vốn có hiềmkhích với Chiêu Lăng (tức vua Thái Tông Trần Cảnh), mang lòng hậm hực,tìm khắp những người tài nghệ để dạy Trần Quốc Tuấn. Lúc sắp mất, AnSinh Vương cầm tay Trần Quốc Tuấn, trăng trối rằng: "Con không vì chalấy được thiên hạ, thì cha chết dưới suối vàng cũng không nhắm mắtđược." Do An Sinh Vương Trần Liễu lấy người chị của công chúa Lý ChiêuHoàng, còn Trần Cảnh cưới Lý Chiêu Hoàng khi bà mới 7 tuổi. Sau này LýChiêu Hoàng không có con (khi chỉ mới 13 tuổi) nên Trần Thủ Độ bắt vợcủa Trần Liễu lúc ấy có thai ba tháng về làm vợ Trần Cảnh (chị thay choem). Chính vì lẽ đó mà Trần Liễu oán giận Trần Cảnh. Quốc Tuấn ghi điềuđó trong lòng, nhưng không cho là phải.

Năm 4,5 tuổi, Trần HưngĐạo theo cha là Đức Khâm Minh Thái Vương (tức Trần Liễu) đi Ác châu, lànơi giam cầm trọng tội. Công chúa Thuỵ Ba thương anh cả vô tội bị đầy,bèn năn nỉ anh kế là Thái Tông, xin nhận Trần Hưng Đạo làm con đem vềThăng Long nuôi dạy. Để tránh sự soi mói ghẻ lạnh của triều đình, TrầnHưng Đạo được công chúa Thuỵ Ba gửi tại chùa Phật Quang (làng KhúcThuỷ, Cự Khê, Thanh Oai, Hà Tây) nhờ trụ trì chùa dạy dỗ cho tới nămlên 10.

Cướp ngôi hay không
Đến khi vận nước lung lay, quyềnquân quyền nước đều do ở mình, ông đem lời cha trăng trối để dò ý haigia nô thân tín là Dã Tượng và Yết Kiêu. Hai người gia nô bẩm rằng:"Làm kế ấy tuy được phú quý một thời nhưng để lại tiếng xấu ngàn năm.Nay Đại Vương há chẳng đủ phú và quý hay sao? Chúng tôi thề xin chếtgià làm gia nô, chứ không muốn làm quan mà không có trung hiếu, chỉ xinlấy người làm thịt dê là Duyệt làm thầy mà thôi."[cần chú thích]

(Lấytừ tích cũ: Sở Chiêu Vương chạy loạn ra nước ngoài, có người làm thịtdê tên là Duyệt đi theo. Sau Chiêu Vương trở về nước, ban thưởng choDuyệt. Duyệt từ chối và nói: "Nhà vua mất nước, tôi không được giết dê,nay vua về nước, tôi lại được làm nghề giết dê, tước lộc thế là đủ cònthưởng gì nữa".)

Quốc Tuấn cảm phục đến khóc, khen ngợi haingười. Một hôm Quốc Tuấn vờ hỏi con ông là Hưng Vũ Vương Trần QuốcHiến: "Người xưa có cả thiên hạ để truyền cho con cháu, con nghĩ thếnào?"

Hưng Vũ Vương Trần Quốc Hiến thưa: "Dẫu khác họ cũng không nên, huống chi là cùng một họ!"

TrầnQuốc Tuấn ngẫm cho là phải. Lại một hôm Trần Quốc Tuấn đem chuyện ấyhỏi người con thứ là Hưng Nhượng Vương Trần Quốc Tảng. Trần Quốc Tảngtiến lên thưa: "Tống Thái Tổ vốn là một ông lão làm ruộng, đã thừa cơdấy vận nên có được thiên hạ."

Trần Quốc Tuấn rút gươm mắng:"Tên loạn thần là từ đứa con bất hiếu mà ra" và định giết Quốc Tảng,Hưng Vũ Vương hay tin, vội chạy tới khóc lóc xin chịu tội thay, QuốcTuấn mới tha.

Sau đó, ông dặn Hưng Vũ Vương: "Sau khi ta chết, đậy nắp quan tài đã rồi mới cho Quốc Tảng vào viếng."

NămẤt Dậu, Thiệu Bảo năm thứ 7, 1285, thế giặc bức bách, hai vua ngầm đichiếc thuyền nhỏ đến Tam Trĩ nguyên (sông Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh ngàynay), sai người đưa thuyền ngự ra Ngọc Sơn (mũi biển thuộc châu VạnNinh, gần Móng Cái, nay thuộc tỉnh Quảng Ninh) để đánh lừa giặc.

Lúcấy, xa giá nhà vua phiêu giạt, mà Trần Quốc Tuấn vốn có kỳ tài, lại cònmối hiềm cũ của An Sinh Vương, nên có nhiều người nghi ngại. Trần QuốcTuấn theo vua, tay cầm chiếc gậy có bịt sắt nhọn. Mọi người đều gườmmắt nhìn. Trần Quốc Tuấn liền rút đầu sắt nhọn vứt đi chỉ chống gậykhông mà đi. Còn nhiều việc nữa, đại loại như thế.

Sử gia Ngô SĩLiên viết: "Bậc đại thần ở vào hoàn cảnh bị hiềm nghi nguy hiểm, tấtphải thành thực tin nhau, sáng suốt khéo xử, như hào cửu tứ của quẻ Tùy(xem Kinh Dịch) thì mới có thể giữ tròn danh dự, làm nên sự nghiệp. Nếukhông thế thì nhất định sẽ mang tai họa. Quách Tử Nghi nhà Đường, TrầnQuốc Tuấn nhà Trần đã làm được như vậy."

Quan hệ với Trần Quang Khải
Trướckia, Trần Thánh Tông thân đi đánh giặc, Trần Quang Khải theo hầu, ghếtể tướng bỏ không, vừa lúc có sứ phương bắc đến. Thái Tông gọi Hưng ĐạoVương Trần Quốc Tuấn tới bảo: "Thượng tướng đi theo hầu vắng, trẫm địnhlấy khanh làm Tư đồ để tiếp sứ phương Bắc."

Trần Quốc Tuấn thưa:"Việc tiếp sứ giả, thần không dám từ chối, còn như phong thần làm Tư đồthì thần không dám vâng chiếu. Huống chi Quan gia đi đánh giặc xa, Tháisư theo hầu mà bệ hạ lại tự ý phong chức, thì tình nghĩa trên dưới, ecó chỗ chưa ổn, sẽ không làm vui lòng Quan gia và Thượng tướng. Đợi khixa giá trở về, sẽ xin vâng mệnh cũng chưa muộn."

Một hôm, TrầnQuốc Tuấn từ Vạn Kiếp tới, Trần Quang Khải xuống thuyền chơi suốt ngàymới trở về. Trần Quang Khải vốn sợ tắm gội, Trần Quốc Tuấn thì thíchtắm thơm, từng đùa bảo Trần Quang Khải: "Mình mẩy cáu bẩn, xin tắmgiùm", rồi cởi áo Trần Quang Khải ra, dùng nước thơm tắm cho ông vànói: "Hôm nay được tắm cho Thượng tướng." Trần Quang Khải cũng nói:"Hôm nay được Quốc công tắm rửa cho."

Trước đây, hai ông tuy mộtlà Quốc công tiết chế, một là Thượng tướng thái sư nhưng do lo lắng vềmối thù của Trần Liễu để lại mà có mối hiềm nghi xa cách. Sau khi đượcTrần Quốc Tuấn tắm cho, hai ông trở nên thân tình, tin tưởng nhau, tìnhnghĩa qua lại giữa hai ông ngày càng thêm mặn mà. Trong việc giúp đỡnhà vua, hai ông đều đứng hàng đầu.
Quyền phong tước
Vì có cônglao lớn trong cả 3 lần chống Nguyên nên vua gia phong ông là Thượngquốc công, cho phép ông được quyền phong tước cho người khác, từ minhtự trở xuống, chỉ có tước hầu thì phong tước rồi tâu sau. Nhưng QuốcTuấn chưa bao giờ phong tước cho một người nào. Khi quân Nguyên vàocướp, Quốc Tuấn lệnh cho nhà giàu bỏ thóc ra cấp lương quân, mà cũngchỉ cho họ làm lang tướng giả chứ không cho họ tước lang thực, ông rấtkính cẩn giữ tiết làm tôi.

Tài dụng binh
Ông lại khéo tiến cửngười tài giỏi cho đất nước, như Dã Tượng, Yết Kiêu là gia thần củaông, có dự công dẹp Ô Mã Nhi, Toa Đô. Các người nổi tiếng khác như PhạmNgũ Lão, Trần Thì Kiến, Trương Hán Siêu, Phạm Lãm, Trịnh Dũ, Ngô SĩThường, Nguyễn Thế Trực vốn là môn khách của ông, đều nổi tiếng thời đóvề văn chương và chính sự, bởi vì ông có tài mưu lược, anh hùng, lạimột lòng giữ gìn trung nghĩa vậy. Xem như khi Trần Thánh Tông vờ bảoTrần Quốc Tuấn rằng: "Thế giặc như vậy, ta phải hàng thôi". Trần QuốcTuấn trả lời: "Bệ hạ chém đầu tôi trước rồi hãy hàng". Vì thế, đờiTrùng Hưng, lập nên công nghiệp hiếm có. Tiếng vang đến phương bắc,chúng thường gọi ông là An Nam Hưng Đạo Vương mà không dám gọi thẳngtên. Sau khi mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn bệnhdịch, nhiều người cầu đảo ông. Còn có lời đồn rằng, mỗi khi đất nước cógiặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thếnào cũng thắng lớn.

Trần Quốc Tuấn từng soạn các sách như Binhgia diệu lý yếu lược (quen gọi là Binh thư yếu lược) và Vạn Kiếp tôngbí truyền thư để dạy các tỳ tướng, dụ họ bằng bài "Hịch tướng sĩ".

TrầnQuốc Tuấn từng soạn sách để khích lệ tướng sĩ dưới quyền, dẫn chuyện KỷTín chết thay để cứu thoát Hán Cao Tổ, Do Vu giơ lưng chịu giáo để cứuSở Tử. Ông dạy đạo trung như vậy.

Nhân dân Việt Nam vô cùng kínhtrọng ông do công lao 2 lần lãnh đạo đất nước chống lại được họa ThátĐát (Mông Cổ). Dưới vó ngựa của Nguyên Mông, các nước Hồi giáo hiếuchiến ở Trung Á, các công tước của Moskva, Novogrod (nước Nga ngày nay)cũng không thể nào bảo vệ được nền độc lập của mình. Lãnh thổ củaNguyên Mông, theo chiều ngang, kéo dài từ Viễn Đông (gồm cả Triều Tiên)đến tận Moskva, Muhi (Hungary), Tehran, Damascus; chiều dọc từ Bắc Áxuống hết cả Ấn Độ, Miến Điện. Trong cơn lốc chinh phục của họ, chỉ cóThái Lan (Sukhothai) thoát khỏi họa diệt vong nhờ sách lược cầu hòa,Nhật Bản may mắn nhờ một trận bão biển làm thiệt hại bớt tàu của MôngCổ, và Đại Việt nhờ khả năng lãnh đạo của Hưng Đạo Đại Vương mà giữđược bờ cõi.

Ghi chú: Mông Cổ không xâm chiếm được Ấn Độ, họ chỉtiến được đến biên giới miền bắc Ấn ngày nay và bị chặn lại. Họ cũngchỉ vào được miền bắc Myanma trong một thời gian ngắn rồi phải rút lui.
NgoàiĐại Việt đánh bại được đế chế Mông Cổ còn có Java (Indonesia), Ai Cập,Ấn Độ, tuy nhiên chiến công của Đại Việt là hiển hách nhất[cần chúthích].


Lấy dân làm gốc
Tháng 6 năm 1300, Hưng Đạo Vương ốm. Vua ngự tới nhà thăm, hỏi rằng:

"Nếu có điều chẳng may, mà giặc phương Bắc lại sang xâm lược thì kế sách như thế nào?"
Hưng Đạo Vương trả lời:

"Ngàyxưa Triệu Vũ[1] dựng nước, vua Hán cho quân đánh, nhân dân làm kế thanhdã, đại quân ra Khâm Châu, Liêm Châu đánh vào Trường Sa, còn đoản binhthì đánh úp phía sau. Đó là một thời. Đời Đinh, Lê dùng người tài giỏi,đất phương nam mới mạnh mà phương bắc thì mệt mỏi suy yếu, trên dướimột dạ, lòng dân không lìa, xây thành Bình Lỗ mà phá được quân Tống. Đólại là một thời. Vua Lý mở nền, nhà Tống xâm phạm địa giới, dùng LýThường Kiệt đánh Khâm, Liêm, đến tận Mai Lĩnh là vì có thế. Vừa rồi ToaĐô, Ô Mã Nhi bốn mặt bao vây. Vì vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cảnước góp sức, giặc phải bị bắt. Đó là trời xui nên vậy. Đại khái, nócậy trường trận, ta dựa vào đoản binh. Dùng đoản binh chế trường trậnlà sự thường của binh pháp. Nếu chỉ thấy quân nó kéo đến như lửa, nhưgió thì thế dễ chế ngự. Nếu nó tiến chậm như các tằm ăn, không cầuthắng ***ng, thì phải chọn dùng tướng giỏi, xem xét quyền biến, nhưđánh cờ vậy, tùy thời tạo thế, có được đội quân một lòng như cha conthì mới dùng được. Vả lại, khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc,đó là thượng sách giữ nước vậy."
Khi sắp mất, ông dặn con rằng:

"Tachết thì phải hỏa táng, lấy vật tròn đựng xương, bí mật chôn trong vườnAn Lạc, rồi san đất và trồng cây như cũ, để người đời không biết chỗnào, lại phải làm sao cho mau phục".
Trần Quốc Tuấn giữ Lạng Giang,quân Nguyên hai lần vào cướp, ông liên tiếp đánh bại chúng, sợ sau nàycó thể xảy ra tai họa đào mả chăng. Ông lo nghĩ tới việc sau khi mấtlại là vì vậy.

Mùa thu, tháng 8, ngày 20, Hưng Đạo Vương TrầnQuốc Tuấn mất ở phủ đệ Vạn Kiếp, được tặng Thái sư thượng phụ thượngquốc công Nhân Vũ Hưng Đạo Đại Vương.

Vua Trần Thánh Tông có soạn bài văn bia ở sinh từ của Trần Quốc Tuấn, ví ông với Thượng phụ (Lã Vọng ngày xưa bên Trung Quốc).

Nhân dân sùng kính phong Thánh

Saukhi mất, Trần Hưng Đạo được thờ phụng ở nhiều nơi, trong đó lễ hội lớnnhất ở đền Kiếp Bạc thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương ngày nay, nơingày xưa là phủ đệ của Ngài. Ngài được người dân bao đời sùng kínhphong Thánh tức là Đức thánh Trần, đây là điều hiếm hoi trong lịch sửchỉ dành riêng cho vị danh tướng nhà Trần. Ngày lễ chính thức được tổchức vào ngày Ngài mất (20 tháng 8 âm lịch hàng năm). Nhân dân khônggọi trực tiếp tên của Ngài mà gọi là Hưng Đạo Vương, Hưng Đạo ĐạiVương, Đức thánh Trần, hoặc gọi là Cha (Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗMẹ).

Các đền thờ Hưng ĐạoTác phẩm
Hịch tướng sĩ
Binh gia diệu lý yếu lược (hay "Binh thư yếu lược")
Vạn Kiếp tông bí truyền thư. Đại Vương có thể thấy ở khắp nước Việt Nam.
__________________
Bạn tham khảo và lọc ý ra nhé.

Về Đầu Trang Go down
 

Đề : TMinh về Trần Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn trong tác phẩm cùng tên của Ngô Sĩ Liên

Xem chủ đề cũ hơn Xem chủ đề mới hơn Về Đầu Trang 
Trang 1 trong tổng số 1 trang
Trả lời nhanh - Quick reply
Permissions in this forum:Bạn không có quyền trả lời bài viết
Diễn đàn văn mẫu  :: Tủ sách văn mẫu :: Tủ sách văn mẫu cho học sinh trung học phổ thông :: Lớp 10-
 


Free forum | © phpBB | Free forum support | Liên hệ | Report an abuse | www.sosblogs.com